Các cuộc thảo luận mới đây giữa đại diện Bộ Nội vụ 2 nước Việt Nam và CHLB Nga về việc hợp tác tuyển dụng lao động xuất khẩu đang đặt ra những dấu hỏi lớn trong giới quan sát chính trị quốc tế.

Theo các thông tin được công bố, hai bên đang hướng tới mục tiêu tuyển dụng khoảng 30.000 lao động Việt Nam sang Nga trong năm 2026, đi kèm với những điều kiện thông thoáng về thủ tục di trú và lời hứa hẹn mức thu nhập hấp dẫn lên đến 2.000 USD/tháng.
Tuy nhiên, bối cảnh triển khai thỏa thuận này lại trùng hợp với thời điểm chiến trường Ukraine đang tiêu tốn nguồn nhân lực của Moscow ở mức độ chưa từng có. Điều này đã buộc giới phân tích và công luận phải đặt ra một câu hỏi không né tránh.
Đó là, liệu đây chỉ là một chương trình xuất khẩu lao động với mục đích kinh tế thông thường, hay là một chiến dịch “ngụy trang” nhằm tìm kiếm nguồn bổ sung cho nguồn lực quân sự đang thiếu hụt trầm trọng của Liên bang Nga?
Điều đáng chú ý không chỉ là quy mô con số 30.000 nhân sự, mà là thế tiến thoái lưỡng nan về mặt pháp lý và quân sự mà Điện Kremlin đang phải đối mặt.
Theo đó, kể từ đầu năm 2026, các báo cáo chiến sự đã chỉ ra rằng số lượng thương vong của phía Nga trên chiến trường liên tục vượt quá khả năng tuyển dụng người ở trong nước, bất chấp các gói lương thưởng và chế độ đãi ngộ rất cao đã được đưa ra.
Moscow không thể tiến hành một lệnh tổng động viên toàn diện bởi những ràng buộc pháp lý chặt chẽ do việc duy trì tuyên bố đây là một “chiến dịch quân sự đặc biệt” chứ không phải một cuộc chiến tranh xâm lược chính thức.
Trên thực tế, để giải bài toán thiếu lính, nước Nga đã và đang đẩy mạnh việc thu hút nguồn lính tình nguyện nước ngoài với nhiều hình thức khác nhau, và bằng những hợp đồng tài chính hấp dẫn bằng ngoại tệ với giá rất cao.
Sự xuất hiện của một thỏa thuận lao động trên quy mô lớn với Việt Nam trong bối cảnh như vừa kể ngay lập tức bị đặt dưới sự nghi ngờ về một “cái bẫy mật ngọt” nhằm chuyển dịch dòng lao động dân sự thành nguồn cung ứng lực lượng bán quân sự phục vụ trên chiến trường.
Vấn đề nằm ở chỗ, nếu các lao động Việt Nam sang Nga dưới danh nghĩa “xuất khẩu lao động” nhưng bị ép buộc, hoặc bị dụ dỗ ký các cam kết tình nguyện để ra tiền tuyến, hệ quả đối với uy tín quốc tế của Việt Nam sẽ là khôn lường.
Nếu các thỏa thuận giữa Bộ Nội vụ 2 nước Việt Nam và CHLB Nga chỉ tập trung vào thị trường lao động, nhằm giải quyết việc làm và tăng nguồn ngoại tệ gửi về nước là điều hết sức bình thường.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn “cảnh giác”, một khi công dân Việt Nam bước qua biên giới sang Nga – một quốc gia đang trong tình trạng chiến tranh, các cơ chế bảo hộ công dân của Việt Nam sẽ cần được đặt ở mức cao nhất để đề phòng trong trường hợp nếu phía Nga áp dụng các biện pháp cưỡng bách ngầm.
Đây là điều mà công luận cũng nhu giới quan sát quốc tế đang lên tiếng cảnh báo mạnh mẽ về trách nhiệm giải trình khi ký kết, việc phê duyệt các hiệp định lao động quốc tế đòi hỏi sự thẩm định kỹ lưỡng về các điều khoản bảo hiểm tính mạng.
Theo giới quan sát, nếu chính phủ Hà Nội không xem xét một cách thận trọng và để tránh xảy ra kịch bản “lao động trá hình” và dẫn tới bị thương vong hay tử vong trên chiến trường Ukraine.
Các cơ quan chức năng Việt Nam cần áp dụng chế tài truy tố hình sự về trách nhiệm công vụ đối với những người đã đặt bút ký mà không nghiên cứu kỹ kẽ hở pháp lý của đối tác.
Khát vọng tìm kiếm thu nhập cao của người lao động Việt Nam ở CHLB Nga trên cơ sơ đôi bên cùng có lợi là nhu cầu hoàn toàn hợp pháp.
Song việc thiết lập các hàng rào kỹ thuật, tạm hoãn các thỏa thuận di trú “nhạy cảm” để bảo vệ tuyệt đối tính mạng công dân Việt Nam trước nguy cơ xung đột sẽ là yếu tố ưu tiên hàng đầu trước khi quyết định được ký kết?
Trà My – Thoibao.de










